Giáo dục và khoa học là chìa khóa nâng vị thế phụ nữ trong nông nghiệp Việt Nam, thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển nông nghiệp bền vững.
Năm 2026 được Liên hợp quốc chọn là Năm Quốc tế Phụ nữ làm Nông nghiệp, nhằm tôn vinh vai trò, đóng góp và thúc đẩy trao quyền cho hàng triệu phụ nữ đang trực tiếp tham gia sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, nông nghiệp không chỉ là trụ đỡ của nền kinh tế mà còn là lĩnh vực gắn bó sâu sắc với phụ nữ, những người âm thầm đảm đương phần lớn công việc từ đồng ruộng đến chuỗi giá trị nông sản. Trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, giáo dục và khoa học được xem là chìa khóa then chốt để nâng cao vị thế của phụ nữ trong ngành.
Nhân dịp này, phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, về vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp Việt Nam hiện nay, cũng như những giải pháp từ đào tạo, nghiên cứu khoa học đến chính sách nhằm trao quyền và phát huy tốt hơn nguồn lực quan trọng này.
    |
 |
| GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại biểu Quốc hội. Ảnh:Khương Trung |
Vị thế của phụ nữ chưa thực sự tương xứng với đóng góp
Thưa Giáo sư, năm 2026 được Liên hợp quốc chọn là Năm Quốc tế Phụ nữ làm Nông nghiệp. Bà nhìn nhận ý nghĩa của sự kiện này như thế nào đối với Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội?
Việc Liên hợp quốc lựa chọn năm 2026 là Năm Quốc tế Phụ nữ làm Nông nghiệp có ý nghĩa rất sâu sắc, không chỉ ở khía cạnh tôn vinh mà quan trọng hơn là khẳng định vai trò trung tâm của phụ nữ trong hệ thống lương thực, thực phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững toàn cầu.
Đối với Việt Nam, ý nghĩa đó càng đặc biệt, bởi vì như chúng ta đã biết, nông nghiệp từ lâu đã là trụ đỡ của nền kinh tế, nhất là trong những giai đoạn khó khăn. Trong cấu trúc của ngành, phụ nữ chiếm tỷ lệ rất lớn trong lực lượng lao động nông thôn, tham gia trực tiếp vào sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản. Họ không chỉ góp phần tạo ra giá trị kinh tế mà còn giữ vai trò quan trọng trong gìn giữ tri thức bản địa, văn hóa làng quê và sự bền vững của cộng đồng nông thôn.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy đóng góp của phụ nữ chưa phải lúc nào cũng được ghi nhận tương xứng với vai trò và công sức họ bỏ ra. Việc Liên hợp quốc phát động Năm Quốc tế Phụ nữ làm Nông nghiệp là cơ hội để các quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhìn nhận lại chính sách, nguồn lực và cách tiếp cận nhằm bảo đảm phụ nữ được trao quyền nhiều hơn, đó là từ tiếp cận đất đai, tín dụng, khoa học-công nghệ cho tới tham gia vào quá trình ra quyết định.
Tôi cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình nông nghiệp xanh, thông minh và giá trị gia tăng cao, việc nâng cao vị thế phụ nữ không chỉ là vấn đề bình đẳng giới, mà còn là yêu cầu phát triển. Khi phụ nữ được tiếp cận tốt hơn với giáo dục, khoa học và cơ hội lãnh đạo, năng suất và chất lượng của toàn ngành nông nghiệp cũng sẽ được nâng lên.
Vì vậy, Năm Quốc tế Phụ nữ làm Nông nghiệp 2026 không chỉ là một dấu mốc mang tính biểu tượng, mà là lời nhắc nhở mạnh mẽ về trách nhiệm hành động để phụ nữ thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.
Phụ nữ tham gia rất sâu vào sản xuất nông nghiệp, song thực tế cho thấy vị thế và tiếng nói của họ vẫn chưa tương xứng. Theo bà, những rào cản lớn nhất đang kìm hãm vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp Việt Nam hiện nay là gì?
Đúng là phụ nữ đang tham gia rất sâu vào toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp, từ sản xuất, chăm sóc, thu hoạch đến sơ chế, buôn bán nhỏ và gìn giữ nghề truyền thống. Ở nhiều vùng nông thôn, phụ nữ gần như là lực lượng lao động chính trên đồng ruộng. Tuy nhiên, vị thế của họ vẫn chưa thực sự tương xứng với đóng góp.
    |
 |
| GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam giới thiệu với Bộ trưởng Trần Đức Thắng những thành tựu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh:Khương Trung |
Theo tôi, có ba rào cản tác động rõ nét.
Thứ nhất là rào cản trong tiếp cận nguồn lực sản xuất. Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam, do Quốc hội ban hành, đã quy định rõ nguyên tắc bình đẳng giới trong quyền sử dụng đất và tiếp cận nguồn lực, nhưng trên thực tế vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Ở một số nơi, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản sản xuất chủ yếu đứng tên nam giới; phụ nữ gặp khó khăn hơn trong tiếp cận tín dụng chính thức do thiếu tài sản bảo đảm hoặc thiếu thông tin. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư, mở rộng sản xuất và tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị nông nghiệp.
Thứ hai là hạn chế trong tiếp cận tri thức và công nghệ. Trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng số hóa, thông minh và xanh hóa, nếu không được đào tạo, cập nhật kỹ năng kịp thời, phụ nữ rất dễ bị “mắc kẹt” trong mô hình sản xuất truyền thống, giá trị gia tăng thấp. Khoảng cách về công nghệ, nếu không được thu hẹp, sẽ trở thành khoảng cách về thu nhập và vị thế.
Thứ ba là rào cản về tiếng nói và vai trò ra quyết định. Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp, tổ chức sản xuất lớn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Trong khi đó, ở cấp độ hộ gia đình và cộng đồng, họ lại gánh vác rất nhiều trách nhiệm. Sự chênh lệch giữa “lao động nhiều” và “quyền quyết định ít” là một thực tế cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Do đó, để tháo gỡ những điểm nghẽn này, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc khuyến khích hay tôn vinh, mà cần có những giải pháp đồng bộ về giáo dục, khoa học-công nghệ và chính sách. Khi phụ nữ được trang bị tri thức, được tiếp cận nguồn lực và được tham gia vào quá trình ra quyết định, họ sẽ không chỉ là lực lượng lao động, mà thực sự trở thành chủ thể của phát triển nông nghiệp bền vững.
Giáo dục và đào tạo chính là chìa khóa quan trọng nhất
Trong tiến trình xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, bà đánh giá vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao năng lực, vị thế và cơ hội phát triển cho phụ nữ làm nông nghiệp như thế nào?
Nếu muốn nâng cao vị thế của phụ nữ trong nông nghiệp một cách căn cơ và bền vững, thì giáo dục và đào tạo chính là chìa khóa quan trọng nhất.
    |
 |
| Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan phát biểu phát biểu tại phiên thảo luận về kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước tại hội trường Quốc hội. Ảnh:Quochoi.vn. |
Trước hết, giáo dục giúp phụ nữ nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng quản lý sản xuất. Nông nghiệp ngày nay không còn là sản xuất thuần túy dựa vào kinh nghiệm, mà đang chuyển mạnh sang mô hình ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp chính xác, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn. Khi được trang bị kiến thức về khoa học cây trồng, vật nuôi, an toàn sinh học, quản trị chuỗi giá trị hay thương mại điện tử, phụ nữ không chỉ làm tốt hơn công việc sản xuất, mà còn có thể chủ động tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào thị trường.
Bên cạnh đó, giáo dục góp phần thay đổi tư duy và nâng cao sự tự tin của phụ nữ. Tri thức không chỉ tạo ra kỹ năng, mà còn tạo ra vị thế. Khi phụ nữ được đào tạo bài bản, có hiểu biết về pháp luật, thị trường và công nghệ, họ sẽ mạnh dạn hơn trong việc tiếp cận nguồn lực, tham gia các tổ chức sản xuất, thậm chí đảm nhận vai trò lãnh đạo trong hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp. Đây là yếu tố rất quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa “lao động trực tiếp” và “ra quyết định”.
Đồng thời, giáo dục là nền tảng để hình thành thế hệ phụ nữ nông nghiệp mới, đó là có tri thức, có khát vọng đổi mới và khả năng hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nông nghiệp Việt Nam muốn phát triển bền vững phải dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc đầu tư cho nữ sinh, nữ nghiên cứu viên và phụ nữ trẻ khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ là vấn đề bình đẳng giới, mà còn là chiến lược phát triển dài hạn của ngành.
Tôi tin rằng, khi giáo dục mở ra cơ hội tiếp cận tri thức và khoa học-công nghệ cho phụ nữ, thì cánh cửa phát triển sẽ rộng mở hơn. Lúc đó, phụ nữ không chỉ là người tham gia sản xuất, mà thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt quá trình đổi mới nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và bền vững.
Là Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, bà có thể chia sẻ những định hướng và đóng góp cụ thể của Học viện trong đào tạo nguồn nhân lực nữ, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức cho phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp?
Là cơ sở đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp trọng điểm của quốc gia, Học viện Nông nghiệp Việt Nam luôn xác định phát triển nguồn nhân lực nữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, gắn với chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho toàn ngành.
    |
 |
| Giáo sư Nguyễn Thị Lan giới thiệu cho Bộ trưởng Trần Đức Thắng tham quan trung tâm nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp, đồng thời lắng nghe định hướng phát triển trong thời gian tới nhằm bắt kịp xu thế hội nhập quốc tế của người đứng đầu ngành Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh:Khương Trung. |
Học viện Nông nghiệp Việt Nam là một trong những trường đại học hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, có sự đóng góp to lớn bởi các cán bộ nữ và nữ sinh viên, với 3 nhà khoa học nữ đã vinh dự nhận giải thưởng Kovalevskaia, được vinh danh và nhận nhiều giải thưởng cao quý như Anh hùng Lao động... Học viện có gần 1.300 cán bộ thì cán bộ nữ chiếm 56%, gần như 100% các cán bộ nữ đều tham gia nghiên cứu khoa học, đồng thời là cầu nối quan trọng trong các hợp tác với các nước trên thế giới.
Hiện nay, Học viện có quy mô đào tạo khoảng 30.000 sinh viên trình độ đại học và sau đại học, trong đó nữ chiếm tỷ lệ hơn 50%. Sinh viên nữ của Học viện luôn có thành tích tốt trong học tập và nghiên cứu, có nhiều cơ hội tham gia các dự án nghiên cứu và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhờ sự tham gia một cách nhiệt tình, khắp các tỉnh, thành phố đều có dấu chân của các nhà khoa học nữ đến từ Học viện.
Ở khâu đào tạo, chúng tôi chú trọng tạo môi trường học tập bình đẳng, khuyến khích nữ sinh tham gia các ngành khoa học-công nghệ, đặc biệt là những lĩnh vực trước đây còn ít nữ giới theo học như công nghệ sinh học, thú y, công nghệ thực phẩm, nông nghiệp số. Học viện không chỉ trang bị kiến thức chuyên môn mà còn tăng cường kỹ năng khởi nghiệp, kỹ năng quản trị và tư duy đổi mới sáng tạo để sinh viên nữ có thể tự tin bước vào thị trường lao động hoặc khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trong nghiên cứu khoa học, Học viện tạo điều kiện để các nhà khoa học nữ tham gia chủ trì đề tài, dự án lớn, hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ. Chúng tôi tin rằng, khi phụ nữ được trao cơ hội trong môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, họ hoàn toàn có thể đóng góp những công trình có giá trị cao, giải quyết các bài toán lớn trong sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, Học viện đẩy mạnh hoạt động tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, trong đó đặc biệt quan tâm đến phụ nữ ở khu vực nông thôn. Thông qua các chương trình đào tạo ngắn hạn, các mô hình trình diễn, các dự án hợp tác với địa phương, chúng tôi mong muốn đưa tri thức khoa học đến gần hơn với phụ nữ nông dân, giúp họ tiếp cận công nghệ mới, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Vai trò của một cơ sở đào tạo không chỉ dừng ở giảng dạy trong giảng đường, mà còn phải lan tỏa tri thức ra cộng đồng. Khi tri thức được trao đi và phụ nữ được tiếp cận bình đẳng với khoa học-công nghệ, đó chính là cách thiết thực nhất để nâng cao vị thế của họ trong nông nghiệp hiện đại.
Với tư cách là Đại biểu Quốc hội, theo bà, Việt Nam cần những chính sách và hành động ưu tiên nào để hưởng ứng Năm Quốc tế Phụ nữ làm Nông nghiệp 2026 một cách thực chất, qua đó phát huy tốt hơn vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp hiện nay.
Để nâng cao vị thế phụ nữ trong nông nghiệp Việt Nam một cách thực chất và bền vững, chúng ta cần một cách tiếp cận đồng bộ từ chính sách, truyền thông, giáo dục đến khoa học công nghệ và thị trường.
    |
 |
| Học viện Nông nghiệp Việt Nam ký kết các thỏa thuận hợp tác với doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm phát triển sản phẩm và hỗ trợ tiêu thụ nông sản thông qua Sàn thương mại điện tử VNUA-MART. Ảnh:Khương Trung. |
Ở góc độ chính sách, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế bảo đảm phụ nữ được tiếp cận bình đẳng với đất đai, tín dụng, đào tạo nghề và các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất. Đồng thời, phải có những chương trình mang tính chiều sâu và bền vững để thúc đẩy phụ nữ khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Khi phụ nữ được tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, họ sẽ đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng bền vững của ngành.
Ở góc độ giáo dục và khoa học, tôi tin rằng đầu tư cho nguồn nhân lực nữ chính là đầu tư cho tương lai của nông nghiệp Việt Nam. Chúng ta cần khuyến khích nhiều hơn nữa nữ sinh theo đuổi các ngành khoa học nông nghiệp, công nghệ sinh học, chuyển đổi số; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để các nhà khoa học nữ phát huy năng lực nghiên cứu và lãnh đạo học thuật.
Và quan trọng hơn cả, xã hội cần thay đổi cách nhìn về vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp. Phụ nữ không chỉ là người “giữ lửa” trong gia đình hay lực lượng lao động thầm lặng trên đồng ruộng, mà còn có thể là nhà khoa học, doanh nhân nông nghiệp, nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách. Khi chúng ta nhìn nhận đúng và trao cơ hội đúng, phụ nữ sẽ chứng minh năng lực của mình bằng những kết quả cụ thể.
Nhân dịp Năm Quốc tế phụ nữ làm Nông nghiệp, tôi mong muốn gửi gắm một thông điệp: hãy trao cho phụ nữ tri thức, cơ hội và niềm tin. Khi đó, họ không chỉ nâng cao vị thế của chính mình, mà còn góp phần nâng cao vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
https://nongnghiepmoitruong.vn/